Một vài suy nghĩ về việc chấn hưng giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (tiếp theo)

2. Coi xã hội hóa đầu tư cho giáo dục như đầu tư cho phát triển
         Phát triển KT-XH đất nước đòi hỏi đội ngũ nhân lực hùng hậu cả về quy mô lẫn chất lượng. Rất tiếc là hai yếu tố này thường vận động trái chiều nhau và trong hoàn cảnh nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn rất hạn hẹp như ở nước ta hiện nay, hai yếu tố quan trọng nói trên của đội ngũ nhân lực đang xung đột gay gắt với nhau và chúng ta không thể đáp ứng đầy đủ đồng thời cả hai yêu cầu này trong phát triển giáo dục.
        Quyết sách về mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng giáo dục mà chúng ta lựa chọn ở trên chỉ là một giải pháp mang tính tình huống khi khả năng đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, hoàn toàn không phải là mục tiêu mà chúng ta mong muốn. Như vậy giải pháp triệt để cho vấn đề quy mô và chất lượng giáo dục không chỉ đóng khung trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này mà cần mở rộng phạm vi xem xét, cụ thể là cần xác định trong khâu đầu tư cho giáo dục.
        Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, trong 15 năm qua kể từ sau Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), tỉ trọng ngân sách Nhà nước hàng năm dành cho giáo dục liên tục tăng mạnh và đã đạt mức 20% từ năm 2007 đến nay. Đây là một con số thống kê khá ấn tượng, thể hiện sự quan tâm và ưu tiên lớn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh KT-XH của nước ta hiện nay khó có thể tăng thêm đáng kể trong vòng một vài năm tới. Bởi vậy, vấn đề cải thiện ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục cần tập trung chủ yếu vào việc phát huy hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn kinh phí được phân bổ.

Hiện nay, cơ chế kinh tế thị trường đang từng bước được định hình và sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với sự phân biệt rõ nét về thu nhập và mức sống giữa các bộ phận dân cư, dẫn đến nhu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng cao và đa dạng. Bởi vậy, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục không thể phân phối theo kiểu bình quân, cào bằng như trước kia mà phải tập trung ưu tiên cho các cấp giáo dục phổ cập và giáo dục đại trà, cho đào tạo nhân tài và các ngành học theo nhu cầu của Nhà nước (sư phạm, văn hóa truyền thống, khoa học cơ bản...), cho giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa cũng như hỗ trợ các đối tượng chính sách, gia đình nghèo (thông qua học bổng, trợ cấp hoặc tín dụng sinh viên...). Mặt khác, cần phát triển các dịch vụ giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội (về môi trường, điều kiện học tập, về ngành nghề, về chất lượng giáo dục...) theo tinh thần tự nguyện. Đối với các chương trình giáo dục chất lượng cao, các dịch vụ bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người học thì người học phải tự trang trải kinh phí.

Việc đầu tư ngân sách Nhà nước cho các cơ sở giáo dục công lập phải có trọng điểm, không bình quân, dàn trải, manh mún để tránh lãng phí và kém hiệu quả. Ngành giáo dục, trước hết là giáo dục nghề nghiệp, cần sớm thực hiện cơ chế hỗ trợ ngân sách Nhà nước trực tiếp cho đối tượng được thụ hưởng và nghiên cứu chuyển các nhiệm vụ giáo dục của Nhà nước thành các dịch vụ công để đặt hàng cho các cơ sở giáo dục, không phân biệt công hay tư thực hiện, tạo động lực cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục cũng như đảm bảo công bằng giữa các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.

Khối các cơ sở giáo dục công lập là lực lượng chủ lực thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước và các dịch vụ công trong giáo dục và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Xã hội hóa giáo dục là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và là giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài nhằm huy động sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn xã hội tham gia chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện xã hội hóa giáo dục một mặt có thể huy động thêm đáng kể nguồn lực đầu tư ngoài Nhà nước bổ sung cho các cơ sở giáo dục công lập. Nhưng mục tiêu trọng tâm của chính sách xã hội hóa giáo dục là tạo điều kiện thúc đẩy việc thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT-XH cũng như nhu cầu xã hội ngày càng lớn và đa dạng về học tập. Đến nay, khối các cơ sở giáo dục ngoài công lập đã hình thành và phát triển mạnh mẽ. Trong hơn hai chục năm qua, có 78 cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập đã được thành lập và tham gia hoạt động giáo dục, chiếm 12,7% tổng quy mô giáo dục đại học của cả nước (tính đến tháng 12/2009).

Tuy nhiên, các cơ sở giáo dục ngoài công lập, đặc biệt là ở các bậc giáo dục đại học cũng bộc lộ nhiều bất cập như: nguồn vốn đầu tư nhỏ, lẻ; đội ngũ giảng viên cơ hữu ít về số lượng và yếu về trình độ, kinh nghiệm chuyên môn; phải thuê mướn cơ sở vật chất và giảng viên từ các cơ sở giáo dục công lập và các cơ quan Nhà nước khác. Tình hình nêu trên không những vi phạm các điều kiện thành lập trường và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của chính các cơ sở giáo dục ngoài công lập mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục công lập có liên quan. Nhưng đáng lo ngại hơn cả là trên thực tế, các cơ sở giáo dục ngoài công lập chủ yếu chia sẻ khai thác, sử dụng các nguồn lực Nhà nước sẵn có cùng với các cơ sở giáo dục công lập mà chưa huy động được nhiều nguồn lực ngoài Nhà nước để bổ sung đầu tư cho giáo dục như mong muốn.

Để hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư, nhất là những nhà đầu tư chiến lược với vốn đầu tư lớn, nhưng vẫn tránh được khuynh hướng thương mại hóa giáo dục nhằm bảo vệ lợi ích xã hội nói chung và quyền lợi của người học nói riêng, Nhà nước cần chấp nhận một mức lợi nhuận hợp lý với những điều kiện nhất định trong hoạt động giáo dục và ưu tiên thành lập các cơ sở giáo dục ngoài công lập, đặc biệt là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư lớn và đáp ứng tốt các điều kiện thành lập trường. Khuyến khích các cơ sở giáo dục ngoài công lập, kể cả các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động phi lợi nhuận bằng các chính sách về thuế, sử dụng đất đai, tín dụng, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng giảng viên... với sự phân biệt mức độ ưu tiên giữa các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi lợi nhuận và các cơ sở giáo dục ngoài công lập có lợi nhuận hợp lý. Về thực chất, các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi lợi nhuận có hình thức sở hữu cộng đồng, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa trong thể chế kinh tế thị trường, bởi vậy cần được miễn thuế và hưởng các chính sách ưu tiên khác tương tự như đối với các cơ sở giáo dục công lập. Cùng với sự phát triển KT-XH đất nước và với chính sách khuyến khích, ưu tiên của Nhà nước, khối các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi lợi nhuận sẽ càng phát triển lớn mạnh và cùng với các cơ sở giáo dục công lập trở thành nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân.

3. Tạo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy tính năng động, sáng tạo của cơ sở giáo dục
         Việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp xu thế phát triển của giáo dục hiện đại. Quyền tự chủ phát huy tính dân chủ, năng động, sáng tạo của cơ sở giáo dục. Nhưng quyền tự chủ chỉ có thể được thực hiện và phát huy tác dụng tích cực trong một khung khổ pháp lý phù hợp, tức là cần ban hành một cơ chế quản lý để bảo đảm thực thi quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục trên thực tế. Có thể nói, nếu chính sách xã hội hóa giáo dục góp phần quan trọng tăng đầu tư cho giáo dục từ các nguồn lực xã hội thì việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục xác lập một cơ chế quản lý năng động, tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động giáo dục vận hành với chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cần quy định phạm vi, nguyên tắc và điều kiện giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục. Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm có thể bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Một là, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được quyền tự chủ trong phạm vi các hoạt động đào tạo, khoa học-công nghệ (KH-CN), hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng đào tạo (nhóm quyền tự chủ về hoạt động chuyên môn) và các công tác tổ chức-cán bộ, kế hoạch-tài chính... (nhóm quyền tự chủ về quản lý hành chính).

Hai là, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, theo nguyên tắc, được giao quyền tự chủ tương ứng với vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như với khả năng tự đáp ứng kinh phí hoạt động và năng lực thực hiện quyền tự chủ được quy định thành các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể và được đánh giá bằng kết quả kiểm định chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có hành vi vi phạm hoặc giảm sút khả năng tự đáp ứng kinh phí hoạt động và năng lực thực hiện quyền tự chủ thì bị thu hồi hoặc hạ mức tự chủ.

Ba là, về điều kiện giao quyền tự chủ, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải cam kết trách nhiệm khi thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật về hoạt động được giao quyền tự chủ của mình.

Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập được giao quyền tự chủ cao, Hội đồng trường là thiết chế cần thiết để đại diện cho chủ sở hữu là Nhà nước (thay cho cơ quan chủ quản) thực hiện vai trò quản lý đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Hoạt động của hội đồng trường tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát hoạt động điều hành của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tránh tình trạng độc đoán, mất dân chủ. Theo quy định của Luật Giáo dục hiện hành, hội đồng trường là thiết chế bắt buộc trong cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nhưng đã sáu năm trôi qua kể từ khi Luật Giáo dục có hiệu lực, quy định này vẫn chưa được thực hiện ở phần lớn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, còn đối với số ít cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đã thành lập hội đồng trường thì tổ chức này chỉ mang tính hình thức, không phát huy được vai trò quản lý của mình. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do các cơ sở giáo dục công lập chưa được giao quyền tự chủ đủ mức cần thiết để cần có hội đồng trường. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường chưa được quy định rõ ràng, mối quan hệ giữa hội đồng trường với thủ trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa đảm bảo được vị thế độc lập của hội đồng trường. Tiếp theo>>

GS, TSKH. ĐÀO TRỌNG THI
Ủy viên Trung ương Đảng,
Chủ nhiệm UB VH, GD, Thanh-Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội

(bài viết được đăng lại từ Tạp chí Tuyên giáo)