Quan điểm nghệ thuật
- Trong cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn suy nghĩ về vấn đề Sống và Viết, rất có ý thức về quan điểm nghệ thuật của mình. Có thể nói,nhắc đến Nam Cao là nhắc đến chủ nghĩa hiện thực trong Văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945,đấy mới thực sự tự giác đầy đủ về những nguyên tắc sáng tác của ông.
- Thời gian đầu lúc mới cầm bút, chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn
đương thời. Dần dần, Ông nhận ra thứ văn chương đó xa lạ với đời sống
lầm than của người lao động; chính vì vậy, Ông đã đoạn tuyệt với nó và
tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm Giăng sáng (1942); phê phán thứ văn chương thi vị hóa cuộc sống đen tối, bất công – Đó là thứ "Ánh trăng lừa dối". Nam Cao nhận thức nghệ thuật phải gắn bó với đời sống, nhìn thẳng vào sự thật "tàn nhẫn", phải nói lên nỗi khốn khổ, cùng quẫn của nhân dân và vì họ mà lên tiếng.
- Đời thừa (1943);
khẳng định phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là
một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì
lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu , bác
ái, công bằng. Và "Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo
một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,
biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa
có". Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bất lương mà còn là đê tiện.
- Sau 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, sẵn sàng hy sinh thứ nghệ thuật cao siêu với ý nghĩ: lợi ích dân tộc là trên hết. Nhật ký Ở rừng (1948) - là tác phẩm có giá trị của văn xuôi thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, thể hiện quan niệm "sống đã rồi hãy viết" và "góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này là chính để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn".
Phong cách nghệ thuật- Đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong
của con người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài – Đây
là phong cách rất độc đáo của Nam Cao. Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá "con người trong con người".
- Tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của ngòi bút Nam Cao.
- Thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh. Từ cái sự tầm thường quen thuộc trong đời sống hàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.
- Giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát.Ông có phong
cách nghệ thuật triết lí trữ tình sắc lạnh. Có nhà nghiên cứu đã ví ông
với nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc với phong cách Téc-mốt (Phiên âm tiếng
việt có nghĩa là cái phích nước)
- Và quan niệm nghệ thuật của ông là " Nghệ thuật vị nhân sinh ( nghệ
thuật phải viết về con người và hướng đến những điều tốt đẹp của con
người); ông phê phán quan niệm " nghệ thuật vị nghệ thuật" ông có nhiều
đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết
Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX.
Trước cách mạng tháng 8
- Người Trí thức nghèo: Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo trong xã hội đương thời trước 1945, những "giáo khổ trường tư",
những nhà văn nghèo, viên chức nhỏ - Đó là những trí thức có ý thức sâu
sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài
năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý; nhưng lại bị gánh
nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người thừa".
Phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp ngẹt sự sống, tàn
phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên khao khát một lẽ sống lớn, có
ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Người nông dân nghèo: Nhà văn dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước 1945
nghèo đói, xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm;
càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, hắt hủi, bất công,
lăng nhục tàn nhẫn; người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu
manh hóa. Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại, đã
đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương
thiện ngay cả khi bị vùi dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người
nông dân; Kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo đó trước 1945.
- "Đôi mắt", tác giả thể hiện một cái nhìn, một quan điểm, một
sự thay đổi đói với thời cuộc, có đi nhiều tìm hiểu nhiều va quan sát
nhiều mới có sự thay đổi cách nhìn cách nghĩ
- sau cách mạng tháng 8 nhà văn tích cực tham gia vào kháng chiến có sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật và nhìn nhận hướng đi mới cho nhân vật
- những tác phẩm văn chương của Nam Cao đã trở thành những tuyên ngôn nghệ thuật cho giới nghệ sĩ đương thời
- "Trăng sáng" là một tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao " Chao ôi!
Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối,nghệ thuật không nên
là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thế chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát
ra từ những kiếp lầm than.
Tác phẩm
- Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật.
- Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956), ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn Nghệ.
- Và bốn tiểu thuyết bản thảo bị thất lạc: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt.
- Ba người bạn
- Bài học quét nhà
- Bẩy bông lúa lép
- Cái chết của con Mực
- Cái mặt không chơi được
- Chuyện buồn giữa đêm vui
- Cười
- Con mèo
- Con mèo mắt ngọc
- Chí Phèo (1941)
- Đầu đường xó chợ
- Điếu văn
- Đôi mắt (1948)
- Đôi móng giò
- Đời thừa (1943)
- Đòn chồng
|
- Đón khách
- Nhỏ nhen
- Làm tổ
- Lang Rận
- Lão Hạc (1943)
- Mong mưa
- Một truyện xu-vơ-nia
- Một đám cưới (1944)
- Mua danh
- Mua nhà
- Người thợ rèn
- Nhìn người ta sung sướng
- Những chuyện không muốn viết
- Những trẻ khốn nạn
- Nụ cười
- Nước mắt
|
- Nửa đêm
- Phiêu lưu
- Quái dị
- Quên điều độ
- anh tẻ
- Rửa hờn
- Sao lại thế này?
- Thôi về đi
- Giăng sáng (1942)
- Trẻ con không được ăn thịt chó
- Truyện biên giới
- Truyện tình
- Tư cách mõ
- Từ ngày mẹ chết
- Xem bói
|
Ngoài ra ông còn làm thơ và biên soạn sách địa lý với Văn Tân Địa dư các nước Châu Âu (1948), Địa dư các nước châu Á, châu Phi (19669), Địa dư Việt Nam (1951). (Giới thiệu một số tác phẩm hay của Nam Cao) (Bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy dựa theo tác phẩm Sống Mòn của nhà văn Nam Cao) |
|