I- Đặt vấn đề :
            Mục tiêu giáo dục của bậc THCS là “ … Tiếp tục phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể chất , thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ  nghĩa có trình độ học vấn THCS và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học PTTH, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống ”.
            Vấn đề đặt ra là trường THCS có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển trở thành con người hữu ích cho xã hội và trước tiên là phát triển về mặt nhân cách .
            Về mặt nhân cách, hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh (HS) phải được hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường THCS. Đó là ý thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội qui lớp học, trường học, chấp hành đúng pháp luật.
            Nhưng thực trạng hiện nay, ở hầu hết các trường THCS đều xuất hiện một bộ phận HS không chấp hành tốt nội qui nhà trường, học tập không nghiêm túc …làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền nếp chung của nhà trường và chất lượng học tập giảm sút . Số HS nầy thường được gọi là học sinh cá biệt ( HSCB ) có xu hướng phát triển. Nhà trường, giáo viên cũng đã có nhiều biện  pháp uốn nắn, giáo dục nhưng chưa có hiệu quả.
            Trước tình hình vậy, là cán bộ quản lí, bản thân trăn trở và cố tìm ra biện pháp tối ưu nhằm giáo dục HSCB trở thành con ngoan trò giỏi.
            Với phạm vi bài viết này, bản thân đề xuất một số biện pháp để giáo dục HSCB , mong tìm ra giải pháp tháo gỡ tình hình HSCB trong trường học .
II- Tình hình học sinh cá biệt ở trường THCS :
1) Khái niệm về học sinh cá biệt :
            Học sinh cá biệt là thuật ngữ thường dùng của nhà trường, thầy cô giáo chỉ những học sinh hoang nghịch : thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học … , không chấp hành nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình .
            HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ  bị lôi cuốn làm cho HS dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội .
2) Tình hình HSCB ở trường THCS :
            Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng HSCB có phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó đã để lại hậu quả như một “ di căn “ sau những vụ việc xãy ra ở các trường THPT : đánh thầy giáo, cướp của giết người, đánh lộn dẫn đến chết người ... và những hành vi khác của thanh thiếu niên, học sinh tác động trực tiếp đến học sinh đang học trong nhà trường .
            - HSCB tăng theo cấp lớp: Ở lớp 6,7 chưa bộc phát, nhưng đến lớp 8,9 học sinh có biểu hiện những thái độ thiếu nghiêm túc trong học tập, sinh hoạt nếu không kịp thời giáo dục sẽ sớm trở thành HSCB .
            - HSCB tăng theo xu thế phát triển của xã hội theo “ cơ chế thị trường “ở khía cạnh tiêu cực .
            Học sinh cá biệt biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau, tạm chia làm 4 nhóm :
1-    Gây gổ đánh nhau , kết bè thành băng nhóm .
2-    Bỏ giờ trốn học dẫn đến học tập sa sút hơn .
3-    Quậy phá, thiếu nghiêm túc trong học tập .
4-    Ươn  ngạnh, học đòi, không nghe lời thầy cô giáo, ý thức tổ chức kỷ luật kém .
* Ở nhóm thứ 1 : Học sinh thường có thể lực phát triển, phát sinh tâm lý đua đòi, làm “anh hùng” ở tuổi mới lớn, thường xuất hiện ở lớp 8,9; tuổi dễ bị kích động, lôi kéo thành băng nhóm, thích gây gỗ đánh nhau … giữa HS trong lớp, trong trường và ngoài nhà trường .
* Ở nhóm thứ 2 :  Một bộ phận HS vì điều kiện học tập thiếu, tiếp thu chậm dẫn đến năng lực học tập hạn chế, thường không thuộc bài, sợ bị kiểm tra ở những môn học khó, hoặc thầy cô khó, nên bỏ giờ dần dần thành thói quen hay bỏ giờ trốn học và từ đó lực học sa sút và có khả năng bỏ học giữa chừng hoặc do bạn bè lôi cuốn vào những trò chơi vô bổ mà bỏ giờ trốn học .
* Ở nhóm thứ 3: Như ở nhóm 2, HS do đặc điểm tâm sinh lý phát triển không bình thường, không tập trung nghe giảng, tiếp thu hạn chế, không hiểu bài dẫn đến ý thức học tập kém, thường xuyên quậy phá, không tập trung cho việc học tập, biểu hiện : xé sách vở của bạn,
“phá” bạn và những trò chơi ngớ ngẩn khác trong giờ học. Những HS nầy dần dần lực học giảm sút, dẫn đến bỏ giờ trốn học và bỏ học .
* Ở nhóm thứ 4 : Một số ít HS biểu hiện tính ươn ngạnh, bướng bỉnh, không chấp hành những qui định của lớp, khi được lưu ý nhắc nhở, có vẻ ăn năn sửa sai nhưng rồi vẫn “chứng nào tật ấy ” rồi thường xuyên vi phạm bất chấp sự góp ý của bạn bè, sự giáo dục của thầy cô giáo, kể cả những hình phạt cho những  vi phạm vẫn không chấp hành: chẳng hạn như tác phong không nghiêm túc: áo không bỏ vào trong quần, tay áo xắn lên, ống quần gấp cao, in hình quái dị, tóc chải rẽ giữa, nhuộm màu, để đuôi sau, bấm lỗ tai , mặt dán kim tuyến, nói tục với bạn bè, không tham gia sinh hoạt lớp, tách rời tập thể .
            Ở tất cả các nhóm HSCB trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và năng lực học tập của học sinh .
            Dù ở nhóm HSCB nào nếu chúng ta không kịp thời uốn nắn, giáo dục các em thì dễ dẫn đến các em từ những vi phạm nhỏ đến việc làm không có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .
            Tất cả những HS bình thường trở thành những HSCB đều có nguyên nhân của nó, ở đây chỉ nêu lên một số nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HS làm cho các em trở thành HSCB .
III- Nguyên nhân phát sinh học sinh cá biệt :
Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng ở đây chỉ nêu một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học tập của các em .
1- Ảnh hưởng của sự phát triển xã hội theo cơ chế thị trường :
Xã hội phát triển là điêù đáng mừng, nhưng khi phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá trớn …
Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bida, internet, ka raokê … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm ăn chơi hàng ngày nhan nhãn, đập vào mắt các em làm cho các em không tự chủ, tham gia không có ý thức  dần dần tiêm nhiễm và trở thành HS hư ( nhóm 1,2 )
2- Ảnh hưởng của môi trường giáo dục gia đình :
Thời gian HS học tập, sinh hoạt ở nhà trường chỉ từ 4-5 giờ trong ngày, việc sinh hoạt học tập đều có sự quản lí hướng dẫn của GVCN, GVBM, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt ở gia đình : tự học, lao động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết HS đều có thời khóa biểu học tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những HS thực sự tự giác trong học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình .
Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan tâm và không tạo điều kiện cho các em học tập thì việc học tập các em không đến nơi đến chốn, chất lượng học tập bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua sút bạn bè dẫn đến chán học, bỏ học .
Như vậy, HSCB phát sinh từ những ảnh hưởng không tốt của môi trường giáo dục gia đình, đó là :
* Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn :
Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không quan tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc con cái phải lao động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn bài, học bài cũ, do đó khi đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi thầy cô giáo kiểm tra bài cũ .. từ đó thua sút bạn bè và phát sinh tâm lí chán học dẫn đến bỏ giờ trốn học, bỏ học ( nhóm 2 ) .
* Gia đình chỉ lo làm ăn, không quan tâm đến việc học của con cái :
Nhiều gia đình vì kế sinh nhai, cả vợ chồng đều đi làm ăn xa, phó mặc con cái cho ông bà hoặc chị em chăm sóc lẫn nhau, một số HS chưa tự giác và thiếu sự quản lí chặt chẽ của người lớn nên nảy sinh những tư tưởng không lành mạnh, từ đó ham chơi mà trốn học, bỏ học .
Có gia đình tuy không khó khăn về kinh tế nhưng có tham vọng làm giàu, bỏ mặc con cái, không quan tâm đến việc học tập của con cái kể cả những thói hư tật xấu của con cái, cha mẹ cũng không biết để răn dạy, do đó từ những vi phạm nhỏ dần dần đến việc lớn (ở nhóm 2) .
* Gia đình có cha mẹ bất hòa, không có hạnh phúc :
Lứa tuổi các em rất nhạy cảm, những cuộc cải vả của cha mẹ, sự to tiếng quát nạt, bạo lực của người cha làm cho các em dần dần bị ảnh hưởng, từ đó nẩy sinh những việc làm không lành mạnh ( biểu hiện ở nhóm 1 ) thích đánh lộn để giải tỏa tâm lý, bị ức chế, bỏ nhà đi chơi không thíêt tha đến việc học, từ đó lực học giảm sút dẫn đến chán học, bỏ học. Ngoài ra, gặp hoàn cảnh gia đình có người cha nát rượu, cũng ảnh hưởng rất lớn đến HS làm các em trở thành HSCB .
Với môi trường giáo dục của gia đình như vậy, HS khó có thể trở thành con ngoan trò giỏi, nếu không có sự động viên kịp thời của bạn bè, nhà trường và thầy cô giáo .
            Thấy rõ được những nguyên nhân trên và từ những phân tích sự hình thành các nhóm HSCB, xin đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế sự phát triển và giáo dục HSCB
IV- Những biện pháp hạn chế và giáo dục học sinh cá biệt :
1- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường :
 - Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK ( tốt, khá, trung bình, yếu ) theo Thông tư 40, Điều lệ trường PT . Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải  liệt vào danh sách HSCB
- Tổ chức cho HS thảo luận nội qui nhà trường và hướng dẫn cho các em thực hiện nội qui, có chế độ khen chê công bằng, khách quan .
- Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội qui lớp học , trường học .
2- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp :
Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa  thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa .
Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại của TT40 làm cho các em thấy được phạm vi vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. GVCN nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến … với thành tích như vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ .
3- Kết hợp với Hội PHHS để giáo dục HS :
Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng CSVC còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB .
Thực tế, những năm qua Thường trực Hội PHHS đã giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch .
4- Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội :
Hiện nay ở địa phương đã hình thành các khu dân cư và nhiều nơi đã xây dựng khu dân cư, thôn văn hóa, đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn .
5- Dùng phương pháp kết bạn :
Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao . Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ ... sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh .
Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết .
V- Kết luận :
            Trong thực tế , các nhà trường , thầy cô giáo cũng đã từng vận dụng những biện  pháp nêu trên và một số biện pháp khác, nhưng vì chưa nắm được nguyên nhân và chưa phân tích các đối tượng cụ thể. Đồng thời, việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, đồng bộ nên việc giáo dục HS chưa có hiêụ quả cao.
            Nếu chúng ta phân tích được các nhóm đối tượng HSCB và tìm hiểu, phân tích kỹ những nguyên nhân dẫn đến HS hoang nghịch đồng thời biết kết hợp và vận dụng các biện pháp trên phù hợp cho từng đối tượng thì sẽ hạn chế và giáo dục HSCB trở thành con ngoan, trò giỏi .
          Tác giả:  Ngô Bang